Quy trình sản xuất

QUY TRÌNH KỸ THUẬT SẢN XUẤT “RAU AN TOÀN XUÂN PHÚ

1. Tiêu chuẩn mua giống và hình thức gieo trồng 1 số giống rau

Mua tại những cửa hàng bán giống uy tín, sản phẩm mua có thương hiệu, nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, cây giống khỏe, hạt giống không có dấu hiệu ẩm mốc, bị nhiễm sâu bệnh, tỷ lệ nảy mầm cao.

– Các loại cải ăn lá là giống rau sinh trưởng và phát triển tốt,

dễ gieo trồng và có thời gian sinh trưởng ngắn (30-45 ngày).

– Hầu hết các loại rau cải thường được gieo trực tiếp, có 1 số giống cấy bằng cây con như: Cải ngồng, cải chíp…

– Khoảng cách trồng cây x cây: 5-7 cm.

– Ở các vùng khí hậu mát mẻ có thể trồng được quanh năm. Thời gian sinh trưởng 50-65 ngày.

– Hạt thường được gieo trong khay sốp hoặc vườn ươm trước sau đó đem ra ruộng sản xuất.

– Khoảng cách trồng: 35 x 40 cm.

– Là cây rau quan trọng trong vụ Đông, dễ trồng và cho năng xuất cao. Thời gian sinh trưởng 90-110 ngày.

– Hầu hết người trồng thường mua cây giống về cấy, số ít mua hạt về tự ươm.

– Khoảng cách trồng: 60 x 40 cm.

– Cây rau ngót có khả năng thích nghi tốt với các điều kiện thời tiết, phát triển tốt vào mùa mưa và nơi ẩm ướt.

Thời gian sinh trưởng 50-60 ngày là có thể cắt được.

– Cây thường được nhân giống bằng phương pháp giâm cành. Khoảng cách trồng: 40×25 cm.

– Rau muống là cây ngày ngắn, sinh trưởng tốt và cho năng suất cao ở nhiệt độ cao, đủ ánh sáng trong vùng nhiệt đới ẩm. Sau trồng 18-20 ngày là có thể thu hoạch.

– Cây có thể được gieo trồng bằng hạt hoặc giâm cành. Khoảng cách trồng: 20 x 10 cm.

– Là giống rau dễ trồng, sinh trưởng và phát triển tốt trên nhiều loại đất trồng. Sau trồng khoảng 1 tháng là có thể thu hoạch.

– Thường được gieo hạt trực tiếp, hoặc gieo trong vườn ươm sau đó đem ra ruộng sản xuất. Khoảng cách trồng: 20 x 25 cm.

– Rau xà lách có nhiều giống khác nhau, loại xà lách cuốn và không cuốn, thuộc cây trồng ngắn ngày. Thời gian sinh trưởng từ 60-65 ngày.

– Thường gieo từ hạt sau đó nhổ cấy lại đảm bảo khoảng cách: 15 x 20 cm.

– Súp lơ là cây thuộc họ thập tự, nhưng phần sử dụng chủ yếu để làm thực phẩm lại là phần cành mang các chùm hoa (còn gọi là hoa lơ). Thời gian sinh trưởng 100-125 ngày.

– Thường được trồng bằng cây con. Khoảng cách trồng: 50 x 60 cm

– Trồng cà chua có ý nghĩa quan trọng về mặt luân canh, tăng vụ và tăng hiệu quả kinh tế trên 1 đơn vị diện tích đất canh tác. Cà chua cho thu hoạch khoảng 75-80 ngày sau trồng, thời gian cho thu hoạch kéo dài 30-60 ngày tùy giống.

– Có thể ươm cây con từ hạt sau đó trồng ra ruộng sản xuất, khoảng cách trồng: 60 x 100 cm.

– Đậu trạch là một trong những loại hoa màu thích nghi trong hệ thống luân canh và là loại đậu rau quan trọng, phân bố rộng, sản lượng tương đối lớn. Sau trồng 50-60 ngày là có thể cho thu hoạch.

– Thường được gieo bằng hạt, có thể ươm bầu hoặc gieo trực tiếp trên ruộng sản xuất. Khoảng cách trồng: Hàng cách hàng 50 – 60cm; Cây cách cây 15 – 20cm.

– Cây dưa chuột cho năng suất lớn và thu hoạch hàng ngày trong thời gian dài. Sau gie 40-45 ngày là có thể thu hoạch.

– Thường được ươm trong bầu sau đó đem trồng ngoài ruộng sản xuất. Khoảng cách trồng cây cách cây 40 x 80 cm.

– Su hào là cây rau quan trọng trong vụ đông ở miền Bắc. Su hào có thời gian sinh trưởng ngắn, có thể gieo trồng nhiều vụ trong năm, kỹ thuật trồng đơn giản, dễ chế biến và được sử dụng nhiều. Thời gian sinh trưởng 90-100 ngày.

– Thường được trồng bằng cây con, khoảng cách trồng 30 x 30 cm.

– Củ cải trắng là loại rau củ dễ trồng, có khả năng thích nghi được với hầu hết các điều kiện thời tiết nên có thể đưa vào trồng quanh năm. Thời gian sinh trưởng 40-45 ngày.

– Thường được gieo trồng bằng hạt, có thể gieo vãi hoặc gieo theo hàng. Khoảng cách trồng 20 x 20 cm.

– Húng quế là loại rau gia vị dễ trồng, thu hoạch quanh năm, có nhiều lợi ích cho sức khỏe và được người tiêu dùng ưa chuộng. Sau trồng 35-40 ngày là có thể thu hoạch.

– Có thể gieo trồng bằng hạt hoặc giâm cành. Khoảng cách trồng: 30 x 30 cm.

– Hành lá là loại cây rau gia vị được nhiều hộ gia đình sử dụng, do đó có lượng nhu cầu rất lớn. Là loại rau gia vị dễ trồng, mang lại thu nhập ổn định. Thời gian sinh trưởng 80-90 ngày.

– Thường được gieo trồng bằng hạt. Khoảng cách trồng 20 x 25 cm.

2. Thời vụ

3. Chuẩn bị đất

3.1. Chọn đất canh tác:

Cách xa các khu công nghiệp, bệnh viện, nhà máy… (không gần nguồn nước ô nhiễm và nước thải của các nhà máy, bệnh viện). Đất tơi xốp, nhẹ, nhiều mùn, tầng canh tác dày, thoát nước tốt.

3.2. Bón lót trước khi trồng

Vệ sinh đồng ruộng, dọn sạch các tàn dư thực vật của vụ trước. Hầu hết các loại rau không thích hợp với đất chua, mà ưa đất có độ pH trung tính (pH 6-7). Vì vậy, để khử chua cho đất cần thiết phải bón vôi, tuy nhiên không nên quá lạm dụng việc này vì sẽ ảnh hưởng tới sự hấp thụ các chất dinh dưỡng của cây.

Song song với việc bón vôi, ta dùng phân ủ (phân chuồng hoai mục) để bón lót trước khi gieo trồng. Tùy từng loại rau cụ thể, sẽ có phương pháp bón lót khác nhau:

a) Dải đều khắp bề mặt luống trồng

Rải đều phân ủ và vôi lên bề mặt luống, dùng cuốc hoặc máy phay mini trộn đều với đất. Áp dụng cho các loại rau ăn lá như cải ngọt, mùng tơi, rau muống…

b) Bón theo khoảng cách cây trồng

Rạch hàng, bổ hố trồng theo khoảng cách, sau đó cho phân ủ và vôi. Phù hợp cho các loại rau đậu, dưa chuột… chú ý khi trồng không để cho hạt, rễ cây con tiếp xúc trực tiếp với phân lót.

c) Bón xuống tầng đất dưới

Đào rãnh (hoặc hố) có độ sâu 20-30 cm. Cho phân ủ và vôi vào rãnh (hoặc hố) và làm chỗ đất trồng ngay bên trên rãnh. Thêm phân ủ và vôi vào chỗ đất trồng và trộn đều vào đất. Áp dụng cho các loại rau dài ngày như cà pháo, cà tím, khoai tây…

3.3. Lên luống

Lên luống trồng cần rộng khoảng từ 1-1,5 m và cao 15-20 cm tùy từng loại rau gieo trồng và theo vụ trồng. Các luống này có thể được sử dụng để trồng các loại rau khác nhau, liên tục trên cùng một mảnh đất trồng. Mỗi lần làm luống, trước hết ta phải dọn sạch cỏ, xới đất và làm khô đất (phơi ải) dưới ánh mặt trời khoảng 7-10 ngày để diệt mầm bệnh và rễ cỏ.

4. Trồng và chăm sóc

Các giống rau khác nhau có các cách gieo trồng khác nhau:

– Gieo trồng từ hạt: Một số giống rau cải, mùng tơi…

– Trồng từ cây con: Đậu rau, cải bắp, su hào, cà chua…

– Giâm cành, củ: Rau ngót, khoai tây…

Có thể rút ngắn quá trình này mẩm và đồng đều hơn bằng cách xử lý hạt giống trước khi gieo (Với các giống rau cải, hạt có tỷ lệ nảy mầm cao, có thể gieo trực tiếp mà không cần qua xử lý). Ngâm hạt trong nước khoảng 4-5 giờ, vớt bỏ các hạt nhẹ nổi lên trên mặt nước và chỉ lấy những hạt chìm.

Vớt các hạt chìm ra và ủ trong tấm vải cotton. Giữ hạt nơi thoáng mát cần duy trì độ ẩm bằng cách tưới nước ấm. Sau khi thấy hạt đã nứt nanh (thường trong khoảng 3 ngày) thì tiến hành gieo hạt ra ruộng sản xuất. Với một số giống rau ăn quả như bầu, bí, mướp, dưa chuột… sau khi hạt nứt nanh nên trồng vào bầu trước, cây con có 1-2 lá thật thì mới đem ra ruộng trồng.

Cách trồng:

Với các giống rau cải, kích thước hạt nhỏ cần chú ý làm đất tơi xốp, san phẳng mặt luống trước khi gieo. Có thể trộn thêm cát hoặc đất bột cùng với hạt giống để gieo được đồng đều hơn. Sau khi gieo hạt xong cần phủ lên trên 1 lớp đất mỏng và rơm rạ để giữ ẩm.

Đối với các giống trồng bằng cây con (cải bắp, su hào, mướp, dưa chuột…) tiến hành bổ hố, bón lót trước khi trồng. Trồng 2 hàng theo kiểu nanh sấu, đảm bảo đúng mật độ và khoảng cách. Chú ý không lấp đất quá dày sẽ làm ảnh hưởng tới cây con sau khi mọc mầm.

Với các giống rau trồng bằng phương pháp giâm cành, chọn các cành hom bánh tẻ, không bị sâu bệnh hại. Tiến hành nhúng cành hom vào dung dịch kích thích mọc rễ trước khi giâm cành

Sau khi gieo trồng, cần thường xuyên đảm bảo độ ẩm để cây phát triển khỏe mạnh và đồng đều.

Làm giàn trồng

Đối với một số loại rau trồng (Bầu, bí, mướp, dưa chuột…) cần phải tiến hành làm giàn. Làm giàn giúp cây có chỗ bám, leo lên đón ánh nắng mặt trời để sinh trưởng và phát triển tốt.

Có 2 cách làm giàn chính: Giàn dây leo kiểu chữ A và kiểu giàn đứng. Khi thấy phần lớn cây có tua cuốn thì bắt đầu làm giàn. Dùng cây nứa, sào có chiều dài từ 2–2,2m, đường kính khoảng 1,5cm để làm giàn. Cắm sào cách gốc 7–10cm.

* Làm giàn dây leo hình сhữ A

Βước 1: Cố định các cọc tre xuống đất tạo khung sườn của giàn. Liên kết khung sườn giàn lại với nhau bằng dây kẽm hoặc lưới làm giàn, chú ý nên sử dụng lоại lưới làm giàn dây leo có thể chịu được thời tiết nắng và mưa gió ở bên ngoài.

Bước 2: Dùng các tấm lưới làm giàn dây leo νắt lên xà ngang bên trên khung sườn của giàn, kéo căng và trải lưới giàn đều nhau, sau đó сố định lưới làm giàn bằng cách dùng đầu dây buộc νàо khung sườn của giàn

* Kiểu giàn đứng

Bước 1: Cắm cáс cọc xuống đất theo kiểu hình 2 сhữ II, mỗi cọc ѕong song νới nhau và cách nhau khoảng 2 – 3m.

Βước 2: Giăng giây vào nóc trên của cáс cọc và phía dưới mép chân cọс tạo khung sườn cho giàn.

Bước 3: Tiến hành giăng lưới, buộc các góc lưới vào các dây chằng liên kết trên – dưới cột của khung sườn của giàn. Cột cố định dây luồn biên vào dây chằng liên kết trên, các mốі cột cách nhau 0,5m.

Bước 4: Dùng lưới làm giàn dây leo lớn kéo trải căng ra như trải bạt che nắng để phủ nóc cho giàn. Nếu không muốn phủ nóc thì có thể bỏ qua bước này.

Làm cỏ, tưới nước và các biện pháp kỹ thuật khác:

Tưới nước: Sử dụng nguồn nước không bị ô nhiễm, không sử dụng nước thải, nước ao tù, ứ đọng lâu ngày. Chú ý tỉa bớt các cây nhỏ, yếu, không cùng loại đảm bảo mật độ và khoảng cách.

Làm sạch cỏ trên luống, rãnh và xung quanh vườn sản xuất. Làm cỏ trước khi bón phân kết hợp xăm xới tạo đất thoáng khí. Vun xới, vét rãnh phòng khi trời mừa ruộng trồng không bị ứ đọng nước.

Tỉa rặm: Đảm bảo đủ mật độ và phân bố đều trên diện tích trồng, tránh lãng phí đất.

5. Phân bón

Lượng phân bón phía dưới khuyến nghị sử dụng trên diện tích gieo trồng 1 hecta cho 1 vụ.

6. Thu hoạch

Cần áp dụng các phương pháp thu hoạch phù hợp với từng loại rau. Thu hoạch đảm bảo đúng độ tuổi sinh lý của rau, không nên thu hoạch quá sớm cũng như quá muộn sẽ làm ảnh hưởng đến chất lượng của sản phẩm.

Cần phải đảm bảo đủ thời gian thời gian cách ly của sản phẩm với phân bón và thuốc BVTV.

Sơ chế, đóng gói đảm bảo sạch sẽ, vệ sinh theo yêu cầu của các đơn đặt hàng.

SÂU BỆNH HẠI VÀ CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ

I. Sâu hại
Sâu tơ (Plutella xylostella)

– Là sâu gây hại nguy hiểm nhất, chúng phát sinh và gây hại liên tục quanh năm

– Sâu non mới nở gặm biểu bì tạo thành những đường rãnh nhỏ ngoằn ngoèo

– Sâu lớn ăn toàn bộ biểu bì lá làm cho lá bị thủng lỗ chỗ gây giảm năng suất và chất lượng rau
Azadirachtin + Spinosad Diafenthiuron, Abamectin; Abamectin + Emamectin benzoate, Cypermethrin:; Emamectin Benzoate; Indoxacarb; Lufenuron; Matrine; Spinosad; Citrus oil.
Rệp (Brevicolyne brassicae)

Cả rệp non và trưởng thành đều chích hút nhựa cây, làm búp và lá bị xoăn lại, lá nhạt màu hoặc vàng, héo rũ. Ngoài gây hại trực tiếp cho cây trồng, rệp còn là môi giới truyền bệnh virus
Abamectin; Abamectin + Alpha-cypermethrin; Abamectin + Chlorfluazuron; Deltamethrin
Sâu xanh bướm trắng (Pieris rapae)

Trưởng thành đẻ trứng rải rác thành từng quả trên lá. Sâu non mới nở gặm ăn chất xanh và để lại màng lá trắng mỏng, sống thành từng cụm. Sâu tuổi lớn phân tán, ăn khuyết lá để lại gân làm cây xơ xác
Abamectin; Emamectin benzoate; Matrine; Azadirachtin; Abamectin + Chlorfluazuron; Abamectin + Alpha-cypermethrin, Abamectin + Bacillus thuringiensis.
Bọ nhảy (Phyllotrera spp.)

Trưởng thành ăn lá và giao phối trên cây. Đẻ trứng chủ yếu trong đất, đẻ nhiều vào sau buổi trưa. Sâu non có 3 tuổi, sống trong đất, ăn rễ cây, làm cho cây bị còi cọc, héo hoặc bị chết. Hoá nhộng ngay trong đất
Abamectin; Emamectin benzoate; Dinotefuran; Azadirachtin; Chlorantraniliprole; Chlorantraniliprole 20% + Thiamethoxam; Abamectin + Alpha-cypermethrin.
Sâu xám (Agrotis ypsilon)

Trưởng thành hoạt động giao phối và đẻ trứng ban đêm, thích mùi chua ngọt. Đẻ trứng rời rạc thành từng quả trên mặt đất. Sâu non mới nở gặm lấm tấm biểu bì lá cây, sâu lớn tuổi sống dưới đất, ban đêm bò lên cắn đứt gốc cây
Abamectin; Metarhizium anisopliae.
Sâu khoang (Spodoptera sp.)

Trưởng thành hoạt động ban đêm, thích các chất có mùi chua ngọt, đẻ trứng thành ổ bám mặt dưới lá. Sâu non sau khi nở sống tập trung quanh chỗ ổ trứng, gặm lấm tấm chất xanh của lá. Sâu lớn tuổi phân tán, ăn khuyết lá. Sâu non phá hại mạnh vào ban đêm
Abamectin; Azadirachtin; Bacillus thuringiensis var. aizawai; Emamectin benzoate; Etofenprox; Fipronil; Trichlorfon.

Ruồi đục quả (Bactrocera sp.)

Ruồi cái dùng ống đẻ trứng chọc sâu vào vỏ quả rồi đẻ vào đó một chùm khoảng 5 – 10 trứng. Chỗ vỏ quả bị ruồi đục có màu đen, mềm và ứ nhựa quả, tạo điều kiện cho các loại nấm bệnh tấn công làm thối trái, khiến quả bị teo rụng hoặc vẫn bám trên cây
Xịt thuốc sâu để diệt ruồi trưởng thành đẻ trứng, có thể sử dụng một trong các loại thuốc sau khi có dịch hại: Dipterex, Applaud, Fastac…

II. Bệnh hại
Bệnh lở cổ rễ (Rhizoctonia solani)

Nấm bệnh tấn công vào phần thân sát mặt đất, vết bệnh lõm sâu và có màu nâu sẫm. Cây bị bệnh sẽ suy yếu, sinh trưởng kém hoặc chết
Validamycin, Copper citrate; Cytokinin; Kasugamycin; Trichoderma viride; Chitosan + Polyoxin; Trichoderma spp 106 cfu/ml + K-Humate + Fulvate + Chitosan + Vitamin B1;
Bệnh sương mai (Peronospora parasitica)

Mặt dưới của lá dấu hiệu của bệnh thể hiện rõ rệt xuất hiện những lớp phấn mịn màu trắng xám. Khi bệnh chuyển biến nặng hơn thì sinh ra hiện tượng khô lá và rất dễ bị rách
Nếu bệnh chớm xuất hiện và chưa lan rộng thì nhổ cây tiêu hủy để ngăn chặn bệnh lây lan. Để phòng trừ loại bệnh gây hại này bạn nên luân phiên sử dụng thuốc Ridomil, Antracol, Cuzate, Mancozed…
Bệnh héo xanh vi khuẩn (Pseudomonas solanacearum)

Khi cây còn non toàn bộ lá héo rũ nhanh chóng đột ngột, lá tái xanh và cây chết khô. Trên cây đã lớn nhánh có lá héo rũ xuống, tái xanh, sau 2 – 5 ngày toàn thân cây héo xanh. Trên thân vỏ vẫn còn xanh hoặc xuất hiện những sọc nâu, vỏ thân phía gốc sù sì, thân vẫn rắn đặc.
Chọn giống kháng bệnh, canh tác luân canh, phun phòng bệnh từ sớm…
Bệnh phấn trắng (Erysiphe sp.)

Bệnh hại chủ yếu trên lá, vết bệnh là những đốm lớn không có hình dạng nhất định, trên mặt có lớp phấn màu trắng, sau lan rộng gần hết bề mặt lá sau chuyển màu nâu vàng. Bệnh nặng làm lá khô vàng và rụng.
Chlorothalonil (Daconil 75WP, 500SC); Citrus oil (MAP Green 3SL).

PHÒNG TRỪ DỊCH HẠI TỔNG HỢP (IPM)

Quản lý dịch hại bằng hành động can thiệp khi cần thiết, bao gồm việc sử dụng các tác nhân phòng trừ một cách an toàn, bền vững, đúng đắn, hiệu quả và tiết kiệm chi phí.

IPM có thể được miêu tả theo mô hình kim tự tháp, với nền tảng của mô hình này là tiến trình phòng trừ tự nhiên và đỉnh tháp là hành động ra quyết định và can thiệp hợp lý (sử dụng thuốc BVTV hay không):

1. Biện pháp canh tác kỹ thuật:

Thường xuyên vệ sinh đồng ruộng sạch sẽ, cắt tỉa các lá già vàng úa tiêu hủy, thực hiện tốt chế độ luân canh trồng cây rau khác họ thập tự: cà rốt, khoai tây, bó xôi, xà lách…chọn giống khỏe, sức đề kháng sâu bệnh tốt, có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng. Bón phân cân đối và hợp lý, tăng cường sử dụng phân hữu cơ sinh học, vi sinh. Chăm sóc theo yêu cầu sinh lý của cây (tạo cây khỏe)

Kiểm tra đồng ruộng phát hiện và kịp thời có biện pháp quản lý thích hợp đối với sâu, bệnh. Thực hiện ghi chép nhật ký đồng ruộng.

2. Biện pháp sinh học:

Hạn chế sử dụng các loại thuốc hóa học có độ độc cao để bảo vệ các loài ong ký sinh của ruồi đục lá, các loài thiên địch bắt mồi như nhện, bọ đuôi kìm…Sử dụng các chế phẩm sinh học trừ sâu bệnh.

3. Biện pháp vật lý:

Nhổ bỏ, gom và tiêu huỷ sớm các cây bị nhiễm bệnh, sử dụng bẫy màu vàng, bẫy Pheromone dẫn dụ côn trùng.

4. Biện pháp hóa học:

Khi sử dụng thuốc phải cân nhắc kỹ theo nguyên tắc 4 đúng (đúng lúc, đúng cách, đúng liều lượng, đúng thuốc), đọc kỹ hướng dẫn sử dụng thuốc, phun khi bệnh chớm xuất hiện. Chỉ sử dụng thuốc bảo vệ thực vật  khi thật cần thiết và theo yêu cầu sau:

+ Không sử dụng loại thuốc cấm sử dụng cho rau.

+ Chọn các thuốc có hàm lượng hoạt chất thấp, ít độc hại với thiên địch, các động vật khác và con người.

+ Ưu tiên sử dụng các thuốc sinh học (thuốc vi sinh và thảo mộc).

Bón vôi: Là biện pháp hữu hiệu nhằm nâng cao độ pH thích hợp để hạn chế bệnh phát triển (pH>6,5). Sử dụng các loại vôi có hàm lượng CaO cao như Hodoo, vôi tôi…Liều lượng vôi bón tuỳ thuộc vào độ pH hiện tại của đất.